Bản chất của tập trung kinh tế là sự tập trung quyền lực thị trường.  Theo đó, một doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp sau tập trung kinh tế (ví dụ thực hiện các giao dịch mua bán hoặc sáp nhập doanh nghiệp) sẽ có tiềm lực kinh tế lớn hơn các doanh nghiệp khác và gia tăng khả năng điều khiển thị trường (ví dụ giá cả hoặc chất lượng hàng hóa).  Để tránh tình trạng các doanh nghiệp có sức mạnh thị trường đáng kể, kiểm soát thị trường sau khi tập trung kinh tế,  Luật Cạnh tranh cho phép các cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế bằng cách đánh giá tác động của việc tập trung kinh tế, cũng như trường hợp tập trung kinh tế gây tác động hoặc có khả năng gây tác động một cách đáng kể đến sự cạnh tranh trên thị trường Việt Nam.

Bài viết này sẽ cung cấp các kiến thức và thông tin cơ bản về pháp luật cạnh tranh liên quan đến các hoạt động mua bán và sáp nhập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, và hình thức tập trung kinh tế

Các chủ thể chịu sự kiểm soát tập trung kinh tế bao gồm tổ chức, cá nhân kinh doanh trong nước và doanh nghiệp nước ngoài hoạt động tại Việt Nam; hiệp hội ngành, nghề hoạt động tại Việt Nam; và cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài có liên quan.  

Theo quy định của Luật Cạnh tranh 2018, có bốn hình thức tập trung kinh tế là (i) sáp nhập doanh nghiệp, (ii) hợp nhất doanh nghiệp, (iii) mua lại doanh nghiệp, và (iv) liên doanh giữa các doanh nghiệp.  Trong đó:

  • Sáp nhập doanh nghiệp là việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập.
  • Hợp nhất doanh nghiệp là việc hai doanh nghiệp trở lên chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình vào một doanh nghiệp mới, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các doanh nghiệp bị hợp nhất.
  • Mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp mua toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối doanh nghiệp hoặc một ngành, nghề của doanh nghiệp bị mua lại.
  • Liên doanh giữa các doanh nghiệp là việc hai doanh nghiệp trở lên cùng nhau góp một phần tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới.

Thông báo tập trung kinh tế

Để kiểm soát và phát hiện kịp thời các trường hợp tập trung kinh tế gây hạn chế cạnh tranh đáng kể cho thị trường, Luật Cạnh tranh quy định các doanh nghiệp trước khi tham gia tập trung kinh tế phải nộp hồ sơ thông báo tập trung kinh tế cho Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia nếu thuộc ngưỡng thông báo tập trung kinh tế.  Sau đó, cơ quan này sẽ xác định xem việc tập trung kinh tế đó có rơi vào trường hợp bị cấm hay không và đưa ra các quyết định phù hợp.  Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ thông báo đầy đủ và hợp lệ, Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia sẽ ra thông báo kết quả thẩm định sơ bộ việc tập trung kinh tế về một trong hai nội dung sau đây: tập trung kinh tế được thực hiện hoặc tập trung kinh tế phải thẩm định chính thức.  

Tập trung kinh tế được thực hiện khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

  • Thị phần kết hợp của các doanh nghiệp dự định tham gia tập trung kinh tế ít hơn 20% trên thị trường liên quan;
  • Thị phần kết hợp của các doanh nghiệp dự định tham gia tập trung kinh tế từ 20% trở lên trên thị trường liên quan và tổng bình phương mức thị phần của các doanh nghiệp sau tập trung kinh tế trên thị trường liên quan thấp hơn 1.800;
  • Thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế từ 20% trở lên trên thị trường liên quan, tổng bình phương mức thị phần của các doanh nghiệp sau tập trung kinh tế trên thị trường liên quan trên 1.800 và biên độ tăng tổng bình phương mức thị phần của các doanh nghiệp trên thị trường liên quan trước và sau tập trung kinh tế thấp hơn 100;
  • Các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế có quan hệ với nhau trong chuỗi sản xuất, phân phối, cung ứng đối với một loại hàng hóa, dịch vụ nhất định hoặc ngành, nghề kinh doanh của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế là đầu vào của nhau hoặc bổ trợ cho nhau có thị phần thấp hơn 20% trên từng thị trường liên quan; và
  • Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia không đưa ra thông báo kết quả thẩm định sơ bộ sau 30 ngày kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ thông báo tập trung kinh tế.  

Trong trường hợp Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia ra thông báo tập trung kinh tế phải thẩm định chính thức thì Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia sẽ thẩm định chính thức việc tập trung kinh tế trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày ra thông báo kết quả thẩm định sơ bộ.  Đối với vụ việc phức tạp, Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia có thể gia hạn thời gian thẩm định nhưng không quá 60 ngày và phải có thông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp nộp hồ sơ thông báo tập trung kinh tế.  Nội dung thẩm định chính thức bao gồm việc đánh giá tác động hoặc khả năng gây tác động tích cực lẫn tiêu cực của tập trung kinh tế lên khả năng cạnh tranh của thị trường.  Ngoài ra, các biện pháp khắc phục tác động hạn chế cạnh tranh và tăng cường tác động tích cực của tập trung kinh tế cũng được xem xét để làm cơ sở ra quyết định cuối cùng về việc có cho phép thực hiện tập trung kinh tế hay không.  

Hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh trong tập trung kinh tế

Điều 44 của Luật Cạnh tranh 2018 quy định 3 nhóm hành vi vi phạm quy định về tập trung kinh tế như sau: (i) không thông báo tập trung kinh tế, hoặc thực hiện tập trung kinh tế khi chưa có thông báo kết quả sơ bộ, chưa thực hiện thẩm định chính thức, (ii) không đáp ứng được các yêu cầu của tập trung kinh tế có điều kiện, và (iii) thực hiện tập trung kinh tế bị cấm.  Theo quy định tại Điều 26 của Nghị định 75/2019/NĐ-CP, Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia là người có thẩm quyền áp dụng  các hình thức xử phạt phù hợp với mức độ vi phạm của họ.  

Chế tài chủ yếu cho hành vi vi phạm quy định về tập trung kinh tế là phạt tiền (với mức phạt tối đa là 5% tổng doanh thu trên thị trường liên quan).  Ngoài ra, Mục III của Nghị định 75/2019/NĐ-CP quy định thêm hình phạt bổ sung là thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đối với doanh nghiệp hợp nhất hoặc doanh nghiệp liên doanh thực hiện hành vi vi phạm.  Thêm vào đó, Nghị định này còn quy định một số biện pháp khắc phục hậu quả như buộc chia, tách doanh nghiệp đã sáp nhập hoặc hợp nhất; buộc chịu sự kiểm soát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ hoặc các điều kiện giao dịch khác trong hợp đồng của doanh nghiệp; hoặc buộc bán lại một phần hoặc toàn bộ vốn góp, tài sản mà doanh nghiệp đã mua.  

Với các hậu quả pháp lý đáng kể như trên khi có hành vi vi phạm, doanh nghiệp cần nắm rõ quy định pháp luật cạnh tranh khi thực hiện các hoạt động tập trung kinh tế như sáp nhập, hợp nhất, mua lại, và liên doanh giữa các doanh nghiệp.

Bài viết này chứa đựng các thuật ngữ pháp lý chuyên ngành, nếu Quý độc giả quan tâm đến quy định về pháp luật cạnh tranh hoặc có vướng mắc về giao dịch mua bán và sáp nhập doanh nghiệp của Quý độc giả có phải thực hiện các quy định theo yêu cầu của pháp luật cạnh tranh Việt Nam, vui lòng liên hệ với các luật sư doanh nghiệp của chúng tôi tại letran@corporatecounsels.vn