Rủi ro trong kinh doanh là rất lớn. Một doanh nghiệp trước khi thành lập phải được tính toán, dự trù kế hoạch rất chi tiết cho từng giai đoạn, quá trình phát triển và tồn tại để tránh rủi ro. Tuy nhiên, hầu như không doanh nghiệp nào dự trù cho tình huống xấu nhất: Phá sản. Không doanh nghiệp nào mong muốn cũng như có dự trù sẽ rơi vào phá sản dù đây là một thực tế.
Thực trạng doanh nghiệp bị phá sản không còn lạ trong nền kinh tế thị trường. Phá sản là sự cạnh tranh, chọn lọc đào thải tự nhiên. Thậm chí có những doanh nghiệp bị phá sản ngay sau khi mới được thành lập. Nguyên nhân dẫn đến sự phá sản của doanh nghiệp là hết sức đa dạng. Có thể là do sự yếu kém về năng lực tổ chức, quản lý hoạt động sản xuất, kinh doanh, là sự thiếu khả năng thích ứng với những biến động trên thương trường, là sự vi phạm các chế độ thể chế quản lý… Làm sao để nhận biết một doanh nghiệp đang rơi vào tình trạng phá sản?
Như thế nào là phá sản?
Thuật ngữ phá sản dùng để chỉ hiện tượng một doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong quá trình hoạt động kinh doanh dẫn đến việc mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn. Nhìn dưới góc độ pháp lý, theo Khoản 1 và Khoản 2 Điều 4 Luật Phá sản 2014, phá sản là tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản. Trong đó, doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán.
Giống như khi thành lập, khi phá sản doanh nghiệp cũng không thể tự tuyên bố phá sản mà phải thực hiện thủ tục phá sản. Chỉ khi Tòa án có thẩm quyền ra quyết định phá sản thì doanh nghiệp mới được coi là phá sản hợp pháp.
Doanh nghiệp bị phá sản không phải bao giờ cũng là chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp. Không phải trường hợp mở thủ tục phá sản nào cũng dẫn đến việc doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản, phải chấm dứt hoạt động kinh doanh mà doanh nghiệp còn có thể có cơ hội phục hồi hoạt động kinh doanh. Doanh nghiệp mất khả năng thanh toán không nhất thiết sẽ dẫn tới việc mở thủ tục phá sản. Ngay cả khi yêu cầu mở thủ tục phá sản, doanh nghiệp còn tới thời gian 03 tháng có thể thương lượng với chủ nợ. Khi doanh nghiệp được tiếp tục hoạt động kinh doanh thì được coi là không còn lâm vào tình trạng phá sản nếu thủ tục phục hồi doanh nghiệp được thực hiện thành công.
Khi nào doanh nghiệp được xem là phá sản?
Phá sản doanh nghiệp là hiện tượng tất yếu của cơ chế kinh tế thị trường. Doanh nghiệp chỉ được xem là phá sản kể từ thời điểm được Tòa án ra quyết định tuyên bố phá sản. Điều kiện để doanh nghiệp được tuyên bố phá sản là phải đáp ứng theo Khoản 2 Điều 4 Luật Phá sản 2014:
- Doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, không thực hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán.
- Doanh nghiệp bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản.
Và ai có quyền yêu cầu phá sản?
Theo Điều 5 Luật Phá sản 2014 quy đinh, đối tượng có quyền và nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán là:
- Chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần;
- Người lao động, công đoàn cơ sở, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở ở những nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở;
- Thành viên hợp tác xã hoặc người đại diện theo pháp luật của hợp tác xã thành viên của liên hiệp hợp tác xã;
- Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 20% số cổ phần phổ thông trở lên trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng và cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu dưới 20% số cổ phần phổ thông trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng;
- Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp;
- Chủ doanh nghiệp tư nhân, Chủ tịch Hội đồng quản trị của công ty cổ phần, Chủ tịch Hội đồng thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, thành viên hợp danh của công ty hợp danh;
Các bước thực hiện thủ tục phá sản
Để được Toà án công nhận và tuyên bố phá sản, doanh nghiệp phải tiến hành các thủ tục phá sản. Luật Phá sản 2014 quy định thủ tục phá sản doanh nghiệp bao gồm các bước sau:
- Nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Những người có quyền, nghĩa vụ nộp đơn quy định tại Điều 5 Luật phá sản 2014 nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Tòa án nhân dân;
- Tòa án xem xét, thụ lý yêu cầu. Sau khi nhận được đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, Tòa án xem xét đơn, nếu đơn hợp lệ sẽ thông báo việc nộp lệ phí và tạm ứng phí phá sản. Nếu đơn chưa hợp lệ thì yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn. Nếu người nộp đơn không có quyền nộp đơn, hoặc từ chối sửa đơn… thì Tòa án trả lại đơn;
- Tòa án thụ lý đơn. Tòa án nhân dân thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi nhận được biên lai nộp lệ phí phá sản, biên lai nộp tạm ứng chi phí phá sản. Sau đó, Tòa án ra quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản trừ trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản theo thủ tục rút gọn quy định tại Điều 105 của Luật phá sản;
- Mở thủ tục phá sản. Quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản của Tòa án phải được gửi thông báo đến những người liên quan. Trong quá trình giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản, có thể yêu cầu Tòa án nhân dân có thẩm quyền thực hiện các biện pháp bảo toàn tài sản như tuyên bố giao dịch vô hiệu, tạm đình chỉ thực hiện hợp đồng… Đặc biệt sẽ kiểm kê lại tài sản, lập danh sách chủ nợ, danh sách người mắc nợ…;
- Hội nghị chủ nợ. Thẩm phán sẽ tiến hành triệu tập hội nghị chủ nợ. Hội nghị chủ nợ là cuộc họp của các chủ nợ được triệu tập trong thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp để thảo luận thông qua phương án hòa giải, giải pháp tổ chức phục hồi lại hoạt động doanh nghiệp hoặc kiến nghị về phương án phân chia tài sản khi doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản. Thời hạn Thẩm phán triệu tập Hội nghị chủ nợ là 20 ngày kể từ ngày kết thúc việc kiểm kê tài sản trong trường hợp việc kiểm kê tài sản kết thúc sau việc lập danh sách chủ nợ hoặc kể từ ngày kết thúc việc lập danh sách chủ nợ trong trường hợp việc kiểm kê tài sản kết thúc trước việc lập danh sách chủ nợ, trừ trường hợp không phải tổ chức Hội nghị chủ nợ theo thủ tục rút gọn. Hội nghị chủ nợ được coi là tiến hành hợp lệ nếu có số chủ nợ tham gia đại diện cho ít nhất 51% tổng số nợ không có bảo đảm. Nếu không đáp ứng sẽ bị hoãn và phải mở hội nghị lần 02. Hội nghị chủ nợ sẽ đưa ra một trong các quyết định: Đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản, đề nghị áp dụng biện pháp phục hồi hoạt động kinh doanh, đề nghị tuyên bố phá sản;
- Ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp bị phá sản. Trường hợp doanh nghiệp không thực hiện được phương án phục hồi hoạt động kinh doanh hoặc hết thời hạn thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh nhưng vẫn mất khả năng thanh toán, Thẩm phán ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp phá sản;
- Thi hành tuyên bố doanh nghiệp bị phá sản. Trong 05 ngày làm việc kể từ ngày có quyết định tuyên bố phá sản, Cơ quan thi hành án tiến hành thanh lý tài sản phá sản, phân chia tiền thu được từ việc bán tài sản của doanh nghiệp cho các đối tượng theo thứ tự phân chia tài sản.
Những việc không được thực hiện sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản
Sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản doanh nghiệp vẫn tiếp tục hoạt động dưới sự giám sát của Thẩm phán và Quản tài viên nhưng nghiêm cấm thực hiện các hoạt động theo quy định tại Điều 48 và Điều 49 Luật Phá sản 2014. Cụ thể:
- Cất giấu, tẩu tán, tặng cho tài sản;
- Thanh toán khoản nợ không có bảo đảm, trừ khoản nợ không có bảo đảm phát sinh sau khi mở thủ tục phá sản và trả lương cho người lao động trong doanh nghiệp, hợp tác xã;
- Từ bỏ quyền đòi nợ;
- Chuyển khoản nợ không có bảo đảm thành nợ có bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần bằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã.
Phá sản là điều tất cả doanh nghiệp không hề mong muốn. Thực hiện đúng các quy định của pháp luật về phá sản là điều thật sự cần thiết nếu doanh nghiệp chẳng may rơi vào tình huống này. Cùng tìm hiểu ở những bài viết tiếp theo. Đừng quên theo dõi và cập nhật những thông tin hữu ích trên trang web của chúng tôi. Khi cần, hãy liên hệ với chúng tôi để được hướng dẫn chi tiết hơn: letran@corporatecounsel.vn