Mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 và chuyển đổi điện than sang năng lượng sạch hướng tới nền kinh tế carbon thấp, tăng trưởng xanh trong những thập kỷ tới, là cam kết của Việt Nam trong Hội nghị COP26, COP27 diễn ra tại Vương quốc Anh và Ai Cập.
Trong những năm qua, ngành năng lượng trở thành ngành kinh tế năng động, đóng góp một phần rất quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh đất nước. Chính vì thế, phát triển năng lượng tái tạo là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước Việt Nam, được cụ thể hóa tại Nghị quyết của Bộ Chính trị, các quyết định của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt chiến lược phát triển và cơ chế khuyến khích phát triển các dự án năng lượng tái tạo. Là quốc gia đang phát triển, có tốc độ tăng trưởng cao và nhu cầu sử dụng năng lượng ngày càng lớn. Bên cạnh việc hoàn thiện thể chế chính sách về phát triển năng lượng để hướng đến mục tiêu dài hạn thì Việt Nam cũng rất cần bảo đảm chuyển dịch năng lượng công bằng, an ninh năng lượng quốc gia. Rất nhiều thách thức được đặt ra!
Tầm quan trọng của việc dịch chuyển năng lượng hướng tới phát triển bền vững tại Việt Nam
Việt Nam với vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên đặc thù, đã bị nhiều ảnh hưởng bởi tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu, ảnh hưởng không nhỏ đến mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam.
Quá trình chuyển đổi năng lượng được xem như một cơ hội không chỉ giúp Việt Nam thúc đẩy hành động vì khí hậu, không khí sạch, mà còn giúp tạo ra nhiều việc làm mới, tăng trưởng kinh tế tạo một tương lai thịnh vượng bền vững.
Chuyển dịch cơ cấu năng lượng là xu hướng chung của thế giới, điều này có thể đảm bảo công bằng xã hội, vì có thể nâng cao chất lượng dịch vụ năng lượng, tạo công ăn việc làm, hiện đại hoá ngành công nghiệp, tăng hiệu quả kinh tế và tăng trưởng kinh tế, nâng cao chất lượng môi trường, giúp giảm nhẹ biến đổi khí hậu. Việt Nam đang đứng trước thách thức về nguy cơ thiếu hụt năng lượng trong vòng một thập kỷ tới, do đó cần có những giải pháp kịp thời để bảo đảm an ninh năng lượng. Trong giai đoạn 2005 – 2030, nhu cầu năng lượng của Việt Nam sẽ tăng 4 lần, nhu cầu điện của Việt Nam tăng 10%/năm đến năm 2025. Mặc dù có trữ lượng than, khí và dầu mỏ lớn, Việt Nam đã trở thành quốc gia nhập khẩu thuần nhiên liệu hoá thạch. Theo quy hoạch điện, các chuyên gia dự báo điện than sẽ chiếm hơn một nửa lượng điện vào năm 2030 và một nửa lượng than sử dụng là than nhập khẩu.
Định hướng, chính sách của Nhà nước về phát triển năng lượng tái tạo
Để huy động được nguồn lực của các thành phần kinh tế phát triển năng lượng tái tạo, Đảng đã có những chủ trương, chiến lược từ sớm: Phát triển thủy điện từ những năm 2000, phát triển điện gió từ sau năm 2010. Năm 2015 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2068/QĐ-TTg 2015 phê duyệt Chiến lược phát triển năng lượng tái tạo của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Đặc biệt là Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 55-NQ/TW ngày 11/02/2020 về định hướng Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và Nghị quyết số 140/NQ-CP ngày 2/10/2020 Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 55 – NQ/TW…
Chiến lược phát triển năng lượng tái tạo của Việt Nam dựa theo quan điểm: Kết hợp phát triển năng lượng tái tạo với triển khai thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội và môi trường, phát triển và sử dụng năng lượng tái tạo kết hợp với phát triển công nghiệp năng lượng tái tạo, kết hợp sử dụng công nghệ ngắn hạn với phát triển công nghệ dài hạn, kết hợp chính sách ưu đãi hỗ trợ với cơ chế thị trường, kết hợp tái cơ cấu với nâng cao năng lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực năng lượng tái tạo. Những mục tiêu chiến lược cụ thể:
- Từng bước nâng cao tỷ lệ tiếp cận nguồn năng lượng sạch và điện năng của người dân khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo: Đến năm 2020 hầu hết số hộ dân có điện, đến năm 2030 hầu hết các hộ dân được tiếp cận các dịch vụ năng lượng hiện đại, bền vững, tin cậy với giá bán điện và giá năng lượng hợp lý.
- Phát triển và sử dụng nguồn năng lượng tái tạo góp phần thực hiện các mục tiêu môi trường bền vững và phát triển nền kinh tế xanh. Giảm nhẹ phát thải khí nhà kính trong các hoạt động năng lượng so với phương án phát triển bình thường, khoảng 5% vào năm 2020. Cụ thể khoảng 25% vào năm 2030 và khoảng 45% vào năm 2050. Góp phần giảm nhiên liệu nhập khẩu cho mục đích năng lượng. Cụ thể giảm khoảng 40 triệu tấn than và 3,7 triệu tấn sản phẩm dầu vào năm 2030, giảm khoảng 150 triệu tấn than và 10,5 triệu tấn sản phẩm dầu vào năm 2050.
- Tăng tổng các nguồn năng lượng tái tạo sản xuất, sử dụng từ khoảng 25 triệu TOE (tấn dầu tương đương) vào năm 2015 lên đạt khoảng 37 triệu TOE vào năm 2020, khoảng 62 triệu TOE vào năm 2030 và 138 triệu TOE vào năm 2050. Tỷ lệ năng lượng tái tạo trong tổng tiêu thụ năng lượng sơ cấp năm 2015 đạt khoảng 31,8%, khoảng 31,0% vào năm 2020, khoảng 32,3% vào năm 2030 và tăng lên, đạt khoảng 44,0% vào năm 2050.
- Tăng sản lượng điện sản xuất từ năng lượng tái tạo tăng từ khoảng 58 tỷ kWh năm 2015 lên đạt khoảng 101 tỷ kWh vào năm 2020, khoảng 186 tỷ kWh vào năm 2030 và khoảng 452 tỷ kWh vào năm 2050. Tỷ lệ điện năng sản xuất từ năng lượng tái tạo trong tổng điện năng sản xuất toàn quốc tăng từ khoảng 35% vào năm 2015 tăng lên khoảng 38% vào năm 2020, đạt khoảng 32% vào năm 2030 và khoảng 43% vào năm 2050.
Trên mục tiêu chiến lược, định hướng phát triển năng lượng tái tạo của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 là ưu tiên khai thác, sử dụng triệt để và hiệu quả các nguồn năng lượng tái tạo, năng lượng mới, năng lượng sạch. Định hướng phát triển được chia thành hai giai đoạn:
Giai đoạn từ nay đến năm 2030
- Phát triển và sử dụng nguồn năng lượng tái tạo độc lập nhằm đáp ứng mục tiêu điện khí hóa nông thôn.
- Đầu tư phát triển các nhà máy phát điện sử dụng năng lượng tái tạo nối lưới.
- Phát triển và sử dụng nguồn năng lượng tái tạo để cung cấp nhiệt năng.
- Phát triển và sử dụng nguồn nhiên liệu sinh học.
Giai đoạn 2030 đến năm 2050
- Tập trung nguồn lực, khai thác và sử dụng tối đa tiềm năng năng lượng tái tạo trong nước bằng những công nghệ tiên tiến, phù hợp với điều kiện thực tế của từng vùng miền, mang lại hiệu quả cao về kinh tế, xã hội và môi trường.
- Phát triển mạnh mẽ thị trường công nghệ năng lượng tái tạo, ngành công nghiệp sản xuất máy móc thiết bị, cung cấp dịch vụ năng lượng tái tạo trong nước.
- Tăng cường mạnh tiềm lực cho nghiên cứu, phát triển, chuyển giao và ứng dụng các dạng năng lượng tái tạo mới.
Những thách thức đặt ra trong quá trình chuyển dịch năng lượng ở Việt Nam
Chuyển dịch năng lượng là chuyển đổi nền kinh tế từ mô hình thâm dụng nhiều năng lượng sang mô hình sử dụng năng lượng một cách hiệu quả. Do vậy phải đối mặt với không ít khó khăn, rào cản và thách thức. Có thể kể đến:
- Cơ chế chính sách hỗ trợ còn bất cập. Đầu tiên là cơ chế chính sách hỗ trợ chưa kịp thời, hợp lý. Với các dự án điện gió và điện mặt trời cơ chế hỗ trợ hết hiệu lực từ ngày 1/11/2021, không có chuyển tiếp nên 62 dự án điện gió xây dựng xong nhưng chưa được đưa vào vận hành do chưa có cơ chế giá trong thời gian dài vừa qua, cho đến khi Quyết định số 21/Q-BCT của Bộ Công Thương ngày 07/01/2023 được ban hành. Khoảng 4.600 MW từ điện gió và điện mặt trời đã hoàn thành xây dựng, vượt qua thử nghiệm, đủ điều kiện phát điện nhưng nhà đầu tư vẫn chưa thể phát lên lưới do phải chờ cơ chế là một lãng phí lớn. Thị trường năng lượng tái tạo cần có các chính sách và thủ tục pháp lý rõ ràng để tăng sự quan tâm của các nhà đầu tư. Các cơ quan quản lý cần đưa ra các chính sách với các điều kiện tạo ra môi trường đầu tư ổn định giúp vượt qua các rào cản, đảm bảo dự đoán được dòng doanh thu của các dự án.
- Vướng mắc về quy chuẩn, tiêu chuẩn ứng dụng công nghệ và kỹ thuật. Việc chưa có các tiêu chuẩn, quy chuẩn cụ thể khiến các nhà sản xuất năng lượng tái tạo phải đối mặt với những khó khăn không cần thiết. Về kỹ thuật, chưa có sự phát triển đồng bộ giữa các dự án năng lượng tái tạo với lưới điện truyền tải. Các dự án điện gió, điện mặt trời có công suất biến đổi phụ thuộc vào các điều kiện tự nhiên, ảnh hưởng một phần đến quá trình vận hành hệ thống điện. Các dự án năng lượng tái tạo với lưới điện truyền tải dẫn đến quá tải lưới điện, không huy động hết năng lực các nhà máy. Các dự án điện gió, điện mặt trời phụ thuộc vào thời tiết, nên khi được tích hợp vào hệ thống điện với quy mô lớn sẽ gặp nhiều thách thức về kỹ thuật…
- Khó khăn về tài chính. Đây là khó khăn lớn nhất. Các dự án năng lượng tái tạo có nhu cầu lớn về vốn nhưng rủi ro cao do công suất và sản lượng phụ thuộc vào thời tiết, khó hậu khiến thời gian thu hồi vốn có thể kéo dài. Vì vậy, các tổ chức tài chính, ngân hàng thương mại chưa sẵn sàng cho vay hoặc có cho vay thì lãi suất cao.
Chuyển dịch năng lượng muốn phát triển cần hơn nữa những chính sách thiết thực, sự chung tay của các cấp quản lý tại Trung ương, địa phương, sự nỗ lực của các doanh nghiệp liên quan, nhất là các nhà đầu tư nước ngoài. Cùng tìm hiểu ở những bài viết tiếp theo. Đừng quên theo dõi và cập nhật những thông tin hữu ích trên trang web của chúng tôi. Khi cần, hãy liên hệ với chúng tôi để được hướng dẫn chi iết hơn: letran@corporatecounsel.vn