Kinh tế số của Việt Nam được đánh giá là có tốc độ phát triển nhanh nhất trong khu vực Đông Nam Á.   Theo thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông, đóng góp của kinh tế số chiếm khoảng 14,26% GDP của Việt Nam.  Với Việt Nam, kinh tế số là định hướng phát triển chiến lược.  Phát triển kinh tế số góp phần giúp Việt Nam rút ngắn khoảng cách phát triển so với thế giới.  Tuy nhiên để tận dụng tốt cơ hội này, để phát triển kinh tế số, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ, quyết liệt của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và của mỗi người dân. 

Chủ trương của Đảng và Nhà nước về kinh tế số

Phát triển Kinh tế số nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, phát biểu tại Diễn đàn cấp cao Chuyển đổi số Việt Nam – Châu Á 2023 tháng 5 vừa qua, Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà khẳng định, Việt Nam đang thực sự trên con đường chuyển đổi số.   Chính phủ đã phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 với 3 trụ cột là chính phủ số, kinh tế số, xã hội số.  Đồng thời các doanh nghiệp đã từng bước hình thành hệ sinh thái công nghiệp số.  Thời gian tới, Chính phủ tiếp tục sửa đổi, tháo gỡ vướng mắc trong quản lý đầu tư, ứng dụng công nghệ thông tin, viễn thông, giao dịch điện tử…  Nhìn nhận thực trạng, rào cản và đưa ra các giải pháp nhằm giúp đẩy nhanh tiến trình phát triển kinh tế số. 

Với quan điểm kinh tế số là xu hướng tất yếu, Đảng và Nhà nước đã ưu tiên thể hiện rõ thông qua các chính sách, các nghị định nhằm tạo điều kiện khuyến khích phát triển kinh tế số:  Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị đã xác định, phát triển kinh tế số là trụ cột, là nhiệm vụ trọng tâm chiến lược trong tiến trình phát triển chuyển đổi số quốc gia những năm tiếp theo và đề ra mục tiêu vào năm 2025, kinh tế số Việt Nam chiếm 20% GDP, đến năm 2030 chiếm 30% GDP.  Quyết định số 749/QĐ-TTg Ngày 3/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, xác định tầm nhìn đến năm 2030, Việt Nam trở thành quốc gia số ổn định và thịnh vượng, tiên phong thử nghiệm các công nghệ và mô hình mới, đổi mới căn bản, toàn diện hoạt động quản lý, điều hành của Chính phủ, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, phương thức sống, làm việc của người dân, phát triển môi trường số an toàn, nhân văn, rộng khắp.

Nhận diện những rào cản trong phát triển kinh tế số tại Việt Nam

Kinh tế số – xu hướng của tương lai, là con đường phát triển tất yếu, là một trong những động lực tăng trưởng trong những thập niên tới của Việt Nam, song việc triển khai vẫn còn nhiều “điểm nghẽn” thách thức.

  • Chính sách pháp lý cho phát triển kinh tế số chưa chặt chẽ, đồng bộ.  Các quy định liên quan đến quản lý hoạt động thương mại điện tử, tài chính số, ngân hàng số, các quy định đảm bảo lợi ích cho doanh nghiệp và người tiêu dùng trong môi trường số,… Bộ chỉ tiêu, công cụ đo lường kinh tế số đã được ban hành nhưng chưa hoàn thiện do chưa có phương pháp đo lường thống nhất trên thế giới và Việt Nam.  Sự chuyển đổi nhanh của các mô hình kinh doanh trong nền kinh tế số dẫn tới một số quy định pháp luật không theo kịp.  Do sự phát triển nhanh chóng của khoa học  công nghệ, kinh tế số cùng các phương thức kinh doanh và các ý tưởng sáng tạo mới làm cho các cơ quan quản lý nhà nước khá lúng túng trong quản lý các hoạt động kinh tế số.  Những bất cập trong quản lý và thu thuế đối với các hoạt động thương mại trực tuyến, nhất là kinh doanh qua các mạng xã hội và cung cấp dịch vụ xuyên biên giới, chưa bảo đảm quyền lợi cho người lao động và người tiêu dùng qua thế giới mạng.  Việc xử lý, giải quyết những tranh chấp, xung đột về hoạt động cũng như lợi ích của các chủ thể tham gia các hoạt động kinh doanh, thương mại và dân sự trên môi trường số chưa được xử lý thỏa đáng.
  • Hạ tầng cơ sở viễn thông chưa đáp ứng được nhu cầu.  Trong nền kinh tế số, dữ liệu là tài nguyên.  Từ dữ liệu, các mô hình số hóa tạo ra những dịch vụ cá nhân hóa tối ưu và tận dụng hiệu quả nguồn lực xã hội nhàn rỗi.  Tuy nhiên, hệ thống dữ liệu ở Việt Nam còn phân tán, chưa chia sẻ và kết nối liên thông.  Do đó, Việt Nam đối mặt với thách thức lớn đến từ việc xây dựng một hệ cơ sở dữ liệu chung của quốc gia.  Hiện một số bộ, ban, ngành đã tự xây dựng cơ sở dữ liệu cho mình nhưng khả năng liên thông chúng với nhau vẫn còn hạn chế.   Việt Nam hiện chỉ có 9 trung tâm dữ liệu chuyên dụng cho doanh nghiệp, ít hơn rất nhiều so với các nước láng giềng, như: Thái Lan, Singapore, Indonesia…
  • Đảm bảo an ninh mạng, an toàn thông tin còn yếu.  Việc bảo đảm an ninh mạng, bảo mật, an toàn thông tin ở nước ta đang đối mặt với nhiều nguy cơ.  Nền kinh tế số dựa trên nền tảng công nghệ thông tin, Internet chứa đựng nguy cơ lớn về bảo mật, an toàn thông tin, tài chính và tính riêng tư của dữ liệu, của các chủ thể tham gia kinh tế số.  Việt Nam là một trong những quốc gia bị tấn công mạng nhiều nhất.  Điều này cho thấy lỗ hổng rất lớn của Việt Nam trong lĩnh vực bảo đảm an ninh mạng, an toàn thông tin.  Đặc biệt, trong một thế giới ngày càng kết nối, khi kỹ thuật số trở nên phổ biến, việc ngăn chặn và giải quyết vấn đề tấn công qua mạng ngày càng trở nên cấp bách vì không chỉ là vấn đề an ninh, an toàn kinh tế, bảo mật thông tin của cá nhân, doanh nghiệp… mà còn là vấn đề an ninh và lợi ích của quốc gia.
  • Cuộc cạnh tranh không cân sức.  Một khó khăn khác là các doanh nghiệp kinh tế số ở Việt Nam đang chịu sự cạnh tranh khốc liệt với các doanh nghiệp nước ngoài.  Sự cạnh tranh gay gắt của các doanh nghiệp công nghệ số nước ngoài với tiềm lực mạnh, tạo ra những sản phẩm sáng tạo và công nghệ cao đang là thách thức lớn với các doanh nghiệp trong nước.  Tính đến nay, đã có khoảng 70.000 xe ô tô ứng dụng hợp đồng điện tử, mà đa phần là của các doanh nghiệp nước ngoài như Grab, đang cạnh tranh với các doanh nghiệp trong nước như Go-Việt, Be, MyGo,… Thực tế, doanh nghiệp nước ngoài hơn doanh nghiệp Việt Nam về tiền vốn đầu tư, quy mô,  kinh nghiệm triển khai các mô hình trong nền kinh tế số.  Trong khi khả năng cạnh tranh của nhiều doanh nghiệp trong nước còn hạn chế do quy mô của đa số doanh nghiệp Việt Nam là vừa và nhỏ, thiếu vốn và trình độ công nghệ thấp.
  • Nguồn nhân lực chưa đảm bảo yêu cầu về chất lượng.  Nguồn nhân lực, đặc biệt nhân lực công nghệ thông tin, nhân tố quan trọng nhất trong phát triển kinh tế số còn ít về số lượng và chưa bảo đảm về chất lượng.  Việt Nam đang thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là nhân lực công nghệ thông tin, truyền thông chất lượng cao, nhân lực cho các lĩnh vực công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo.  Giáo dục Việt Nam chưa theo kịp xu thế phát triển vũ bão của kinh tế số, kinh tế sáng tạo của trong Cách mạng công nghiệp 4.0 cũng là một trở lực lớn cho phát triển kinh tế số ở nước ta.  Ngoài ra, theo các tính toán, trong 15 năm tới khoảng 50% công việc tại các nước phát triển sẽ được thay thế bởi các quy trình tự động hóa, do đó nhu cầu đào tạo và đào tạo lại nhân lực nhằm đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế số càng trở nên cấp thiết.

Giải pháp nào cho phát triển kinh tế số tại Việt Nam?

Từ nhận diện những khó khăn, để đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế số, Việt Nam cần có các giải pháp phù hợp. Có thể kể đến một số giải pháp:

  • Hoàn thiện thể chế, chính sách phát triển kinh tế số.  Cần sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện thể chế liên quan đến các hoạt động khởi nghiệp sáng tạo, đầu tư, kinh doanh trong môi trường kinh tế số. Tiếp tục đẩy mạnh các gói chính sách hỗ trợ chuyển đổi số cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các chính sách liên quan đến vốn và nguồn nhân lực.  Có các chính sách hỗ trợ đối với các mô hình kinh doanh mới, hỗ trợ các sản phẩm có nguồn gốc xuất xứ tại Việt Nam.  Thúc đẩy hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa ứng dụng thương mại điện tử và công nghệ số.  Đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật về chuyển đổi số, nhằm kết nối chia sẻ thông tin, kinh nghiệm, phổ biến kiến thức đến các địa phương, doanh nghiệp, người dân.
  • Nâng cấp, phát triển hạ tầng kỹ thuật số.  Đầu tư nâng cấp hạ tầng kỹ thuật số cũng như các giải pháp công nghệ số hiện đại để triển khai ứng dụng số kết nối thông minh phục vụ cho hoạt động thương mại điện tử, đặc biệt là hệ thống thanh toán điện tử.  Nâng cấp mạng 4G, đẩy nhanh tiến độ phát triển mạng 5G, đảm bảo doanh nghiệp, người dân tiếp cận với Internet tốc độ cao, thúc đẩy các doanh nghiệp phổ cập điện toán đám mây.  Thúc đẩy giải ngân các dự án đầu tư phát triển hạ tầng số hướng tới phát triển hạ tầng đồng bộ, đảm bảo kết nối thông tin, lưu trữ và xử lý dữ liệu cũng như đảm bảo an toàn, an ninh thông tin trong môi trường số.  Triển khai các biện pháp kỹ thuật và phi kỹ thuật để nâng cao hiệu quả quản lý các nền tảng số toàn cầu hoạt động xuyên biên giới tại Việt Nam, tạo môi trường cạnh tranh công bằng, bình đẳng đối với doanh nghiệp trong nước.
  • Thu hút doanh nghiệp đầu tư vốn cũng như tham gia vào các hoạt động kinh tế số.  Thúc đẩy các hoạt động thu hút đầu tư vốn trong hoạt động nghiên cứu phát triển công nghệ thông tin và công nghệ số.  Thúc đẩy doanh nghiệp chủ động đổi mới, sáng tạo, áp dụng mô hình kinh doanh số vào hoạt động sản xuất, kinh doanh.  Bên cạnh đó cũng khuyến khích người tiêu dùng tích cực tham gia vào hoạt động tuyên truyền, phổ biến kiến thức pháp luật, chia sẻ thông tin, hoạt động đào tạo về chuyển đổi số.
  • Nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực cho nền kinh tế số.  Chương trình đào tạo nhân lực công nghệ thông tin cần hướng đến đẩy nhanh xã hội hóa giáo dục công nghệ thông tin, đặc biệt là cập nhật giáo trình đào tạo công nghệ thông tin gắn với các xu thế công nghệ mới như Internet kết nối vạn vật, trí tuệ nhân tạo, công nghệ robot.  Thúc đẩy hỗ trợ các hình thức hợp tác đào tạo giữa các nhà trường, viện nghiên cứu và tổ chức, doanh nghiệp trong và ngoài nước trong đào tạo nhân lực chuyển đổi số. Hỗ trợ sinh viên thực tập, làm việc thực tế ở các doanh nghiệp liên quan đến hoạt động chuyển đổi số.  Khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp tư nhân thực hiện, triển khai các chương trình đào tạo ngắn hạn về chuyển đổi số, kỹ năng số cho người lao động.  Đầu tư phát triển nguồn nhân lực chuyên trách về an toàn thông tin, đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ năng nghề nghiệp về an toàn thông tin.  Đồng thời có các chính sách thu hút và giữ chân nhân lực có chất lượng cao liên quan đến an toàn thông tin.  Kết nối các chuyên gia, nhà khoa học nhằm thúc đẩy gắn kết nghiên cứu, chia sẻ tri thức về hoạt động chuyển đổi số.

Việt Nam đã có những thành công bước đầu trong phát triển kinh tế số, tuy nhiên, để kinh tế số phát triển mạnh mẽ hơn nữa đòi hỏi cần xác định rõ những giải pháp cụ thể và thiết thực.  Cùng tìm hiểu sâu hơn ở những bài viết tiếp theo.  Đừng quên theo dõi và cập nhật thêm nhiều thông tin hữu ích khác trên trang web của chúng tôi.  Hãy liên hệ với chúng tôi để được hướng dẫn chi tiết hơn: letran@corporatecounsel.vn