Thời đại công nghệ 4.0, ngày càng có nhiều thông tin cá nhân của người sử dụng được lưu trữ trên mạng, kẻ xấu có thể thu thập, khai thác trái phép. Việc Chính phủ ban hành nghị định bảo vệ dữ liệu cá nhân là phù hợp và đáp ứng được yêu cầu của bảo mật thông tin. Dữ liệu cá nhân rất cần thiết trong mọi hoạt động. Do vậy khi có thay đổi về thông tin dữ liệu cá nhân, cần phải làm gì? Ai có quyền yêu cầu thay đổi,  xóa dữ liệu thông tin cá nhân?

Các dạng dữ liệu  cá nhân

Dữ liệu cá nhân là thông tin dưới dạng ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự trên môi trường điện tử gắn liền với một con người cụ thể hoặc giúp xác định một con người cụ thể. Dữ liệu cá nhân được phân thành hai dạng:  dữ liệu cá nhân cơ bản và dữ liệu cá nhân nhạy cảm.

  • Theo Khoản 3 Điều 2 , dữ liệu cá nhân cơ bản bao gồm: họ, chữ đệm và tên khai sinh, tên gọi khác nếu có, ngày, tháng, năm sinh, năm chết hoặc mất tích, giới tính, nơi sinh, nơi đăng ký khai sinh, nơi thường trú, tạm trú, nơi ở hiện tại, quê quán, địa chỉ liên hệ, quốc tịch, hình ảnh, số điện thoại, số chứng minh nhân dân, số định danh cá nhân, hộ chiếu,  giấy phép lái xe, biển số xe, mã số thuế, số bảo hiểm xã hội, thẻ bảo hiểm y tế…
  • Giải thích dữ liệu nhạy cảm, tại Khoản 4 Điều 2  định nghĩa: Dữ liệu nhạy cảm là dữ liệu gắn liền với quyền riêng tư của cá nhân mà khi bị xâm phạm sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người đó. Chẳng hạn như: quan điểm chính trị, tôn giáo, tình trạng sức khỏe, đời tư, nguồn gốc chủng tộc, dân tọc, đặc điểm di truyền, đời sống, xu hướng tình dục, dữ liệu về tội phạm, vị trí, thông tin khách hàng của tổ chức tín dụng…

Chủ thể dữ liệu cá nhân là ai?

Tại Khoản 6 Điều 2 Nghị định 13/2023/NĐ-CP, chủ thể dữ liệu cá nhân là cá nhân được dữ liệu phản ánh. Việc thiết lập các hệ thống phần mềm, biện pháp kỹ thuật hoặc tổ chức các hoạt động thu thập, chuyển giao, mua, bán dữ liệu cá nhân phải có sự đồng ý của chủ thể dữ liệu thì mới được xem là hợp pháp.

Nghĩa vụ của chủ thể dữ liệu cá nhân theo quy định

Theo quy định tại Điều 10 Điều 2 Nghị định 13/2023/NĐ-CP, chủ thể dữ liệu cá nhân có các nghĩa vụ sau đây:

  • Tự bảo vệ dữ liệu cá nhân của mình; yêu cầu các tổ chức, cá nhân khác có liên quan bảo vệ dữ liệu cá nhân của mình.
  • Tôn trọng, bảo vệ dữ liệu cá nhân của người khác.
  • Cung cấp đầy đủ, chính xác dữ liệu cá nhân khi đồng ý cho phép xử lý dữ liệu cá nhân.
  • Tham gia tuyên truyền, phổ biến kỹ năng bảo vệ dữ liệu cá nhân.
  • Thực hiện quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân và tham gia phòng, chống các hành vi vi phạm quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Quyền của chủ thể cá nhân đối với thông tin của mình theo quy định

Cụ thể, theo Điều 9 Nghị định 13/2023/NĐ-CP, chủ thể dữ liệu cá nhân có các quyền sau:

Quyền được biết. Chủ thể ca nhân được quyền biết thông tin cá nhân của mình được thu thập bằng cách nào, mục đích sử dụng các loại thông tin, lý do thông tin được thu thập và các phương pháp xử lý dữ liệu cá nhân sau đó.

Quyền đồng ý. Chủ thể dữ liệu được quyền đồng ý hoặc không đồng ý cho phép xử lý dữ liệu cá nhân của mình, trừ các trường hợp được quy định tại Điều 17 : Khẩn cấp có liên quan đến tính mạng, sức khỏe của chủ dữ liệu hoặc người khác, khẩn cấp về an ninh quốc phòng, khi việc công khai dữ liệu cá nhân theo quy định của pháp luật, phục vụ hoạt động của cơ quan nhà nước.

Quyền truy cập. Chủ thể dữ liệu được truy cập để xem, chỉnh sửa hoặc yêu cầu chỉnh sửa dữ liệu cá nhân của mình.

Quyền rút lại sự đồng ý. Chủ thể dữ liệu được quyền rút lại sự đồng ý của mình.

Quyền xóa dữ liệu. Chủ thể dữ liệu được xóa hoặc yêu cầu xóa dữ liệu cá nhân của mình

Quyền hạn chế xử lý dữ liệu.  Chủ thể dữ liệu được yêu cầu hạn chế xử lý dữ liệu cá nhân của mình.  Việc hạn chế xử lý dữ liệu được thực hiện trong 72 giờ sau khi có yêu cầu của chủ thể dữ liệu.

Quyền cung cấp dữ liệu. Chủ thể dữ liệu được yêu cầu Bên Kiểm soát và xử lý dữ liệu cá nhân cung cấp dữ liệu cá nhân của mình.

Quyền phản đối xử lý dữ liệu. Nhằm ngăn chặn hoặc hạn chế tiết lộ dữ liệu cá nhân hoặc sử dụng cho mục đích quảng cáo, tiếp thị, trừ trường hợp luật có quy định khác, chủ thể dữ liệu được phản đối xử lý dữ liệu cá nhân của mình.

Quyền khiếu nại, tố cáo, khởi kiện. Chủ thể dữ liệu có quyền khiếu nại, tố cáo hoặc khởi kiện theo quy định của pháp luật.

Quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại. Chủ thể dữ liệu có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật khi xảy ra vi phạm quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân của mình.

Quyền tự bảo vệ. Chủ thể dữ liệu có quyền tự bảo vệ theo quy định của Bộ luật Dân sự, luật khác có liên quan và Nghị định này, hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thực hiện các phương thức bảo vệ quyền dân sự theo quy định tại Điều 11 Bộ luật Dân sự.

Như vậy, theo các quy định trên trừ trường hợp có quy định khác, chỉ có chủ thể dữ liệu mới được quyền thay đổi, chỉnh sửa dữ liệu cá nhân của mình.

Đừng quên theo dõi và cập nhật thêm nhiều thông tin hữu ích khác trên trang web của chúng tôi.  Khi cần, hãy liên hệ với chúng tôi để được hướng dẫn chi tiết hơn: letran@corporatecounsels.vn