Các doanh nghiệp nước ngoài phải lưu trữ dữ liệu tại Việt Nam. Đó là quy định nằm trong Nghị định 53 được chính phủ ban hành ngày 17/08/2022 và có hiệu lực kể từ ngày 01/10/2022. Nghị định bắt buộc các công ty nước ngoài trong các lĩnh vực viễn thông, Internet, mạng xã hội phải lưu dữ liệu người dùng, và đặt văn phòng đại diện tại Việt Nam. Việc lưu trữ dữ liệu trong nước giúp các doanh nghiệp tiết kiệm chi phí kinh doanh, tăng mức tốc độ truy cập và nâng cao chất lượng dịch vụ…
Doanh nghiệp nào thuộc đối tượng phải lưu trữ dữ liệu tại Việt Nam?
Mục a Khoản 3 Điều 26 Nghị định 53/2022/NĐ-CP đặt ra quy định và trách nhiệm lưu trữ dữ liệu tại Việt Nam đối với các: “Doanh nghiệp nước ngoài có hoạt động kinh doanh tại Việt Nam thuộc một trong những lĩnh vực sau: Dịch vụ viễn thông; lưu trữ, chia sẻ dữ liệu trên không gian mạng; cung cấp tên miền quốc gia hoặc quốc tế cho người sử dụng dịch vụ tại Việt Nam; thương mại điện tử; thanh toán trực tuyến; trung gian thanh toán; dịch vụ kết nối vận chuyển qua không gian mạng; mạng xã hội và truyền thông xã hội; trò chơi điện tử trên mạng; dịch vụ cung cấp, quản lý hoặc vận hành thông tin khác trên không gian mạng dưới dạng tin nhắn, cuộc gọi thoại, cuộc gọi video, thư điện tử, trò chuyện trực tuyến phải lưu trữ dữ liệu quy định tại khoản 1 Điều này và đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện tại Việt Nam trong trường hợp dịch vụ do doanh nghiệp cung cấp bị sử dụng thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về an ninh mạng đã được Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao thuộc Bộ Công an thông báo và có yêu cầu phối hợp, ngăn chặn, điều tra, xử lý bằng văn bản nhưng không chấp hành, chấp hành không đầy đủ hoặc ngăn chặn, cản trở, vô hiệu hóa, làm mất tác dụng của biện pháp bảo vệ an ninh mạng do lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thực hiện.”
Những loại dữ liệu nào cần phải lưu trữ theo quy định?
Theo hướng dẫn tại Khoản 1 Điều 26 Nghị định 53/2022/NĐ-CP , danh mục dữ liệu phải lưu trữ tại Việt Nam có thể được chia thành 3 nhóm chính:
- Dữ liệu về thông tin cá nhân của người sử dụng dịch vụ tại Việt Nam. Đây là một trong những loại dữ liệu được đánh giá quan trọng hàng đầu đối với quyền riêng tư cũng như sự an toàn khi sử dụng dịch vụ internet của người dùng hiện nay. Dữ liệu về thông tin được thể hiện dưới dạng ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự để xác định danh tính một cá nhân.
- Dữ liệu do người sử dụng dịch vụ tại Việt Nam tạo ra. Là quá trình tham gia, hoạt động, sử dụng không gian mạng của người sử dụng dịch vụ và các thông tin về thiết bị, dịch vụ mạng sử dụng để kết nối với không gian mạng trên lãnh thổ Việt Nam. Trong đó có nhiều loại thông tin như: Tên tài khoản sử dụng dịch vụ, thời gian sử dụng dịch vụ, thông tin thẻ tín dụng, địa chỉ thư điện tử, địa chỉ mạng (IP) đăng nhập, đăng xuất gần nhất, số điện thoại đăng ký được gắn với tài khoản hoặc dữ liệu.
- Dữ liệu về mối quan hệ của người sử dụng dịch vụ tại Việt Nam. phản ánh, xác định mối quan hệ của người sử dụng dịch vụ với người khác trên không gian mạng như bạn bè, nhóm họ thường xuyên kết nối hoặc tương tác.
Hình thức, thời gian thực hiện yêu cầu lưu trữ và thời gian lưu trữ
Hình thức lưu trữ dữ liệu. Nghị định 53 không đưa ra bất kỳ yêu cầu cụ thể nào về hình thức lưu trữ dữ liệu tại Việt Nam., mà cho phép doanh nghiệp có thể tự mình quyết định hình thức lưu trữ. Cụ thể tại Khoản 5 Điều 26 Nghị Định 53 quy định: “Hình thức lưu trữ dữ liệu tại Việt Nam do doanh nghiệp quyết định”.
Cùng với nghĩa vụ lưu trữ dữ liệu, doanh nghiệp nước ngoài còn phải tuân theo yêu cầu thành lập chi nhánh hoặc văn phòng đại diện tại Việt Nam. Khoản 2 Điều 27 Nghị Định 53 quy định: “Thời gian đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện tại Việt Nam theo quy định tại Điều 26 Nghị định này bắt đầu từ khi doanh nghiệp nhận được yêu cầu đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện tại Việt Nam đến khi doanh nghiệp không còn hoạt động tại Việt Nam hoặc dịch vụ được quy định không còn cung cấp tại Việt Nam”.
Thời hạn thực hiện yêu cầu lưu trữ dữ liệu tại Việt Nam. Điểm C Khoản 6 Điều 26 Nghị định 53 quy định doanh nghiệp nước ngoài phải hoàn thành việc lưu trữ dữ liệu và đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện tại Việt Nam trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày Bộ trưởng Bộ Công an ra quyết định yêu cầu lưu trữ dữ liệu, đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện tại Việt Nam.
Thời gian lưu trữ dữ liệu tại Việt Nam. Khoản 1 Điều 27 Nghị Định 53 quy định: “Thời gian lưu trữ dữ liệu theo quy định tại Điều 26 Nghị định này bắt đầu từ khi doanh nghiệp nhận được yêu cầu lưu trữ dữ liệu đến khi kết thúc yêu cầu. Thời gian lưu trữ tối thiểu là 24 tháng.”
Xử phạt khi doanh nghiệp không chấp hành quy định về lưu trữ dữ liệu
Không phải toàn bộ các dữ liệu được truyền đưa trên không gian mạng phải lưu trữ tại Việt Nam. Mà chỉ những dữ liệu về thông tin cá nhân mới bắt buộc phải lưu trữ. Quy định này không làm ảnh hưởng tới lưu thông dữ liệu số, cản trở hoạt động của doanh nghiệp. Và khi đã là quy định thì bắt buộ phải tuân theo. Khoản 8 Điều 26 nêu rõ: “Các doanh nghiệp không chấp hành quy định tại Điều này thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý theo quy định của pháp luật”.
Chấp hành nghiêm chỉnh những quy định về lưu trữ dữ liệu cá nhân là nghĩa vụ của các doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam. Điều này cũng giúp cho việc quản lý và vận hành dữ liệu được thực hiện dễ dàng, góp phần hạn chế các hành vi vi phạm về dữ liệu cá nhân.
Đừng quên theo dõi và cập nhật thêm nhiều thông tin hữu ích khác trên trang web của chúng tôi. Khi cần, hãy liên hệ với chúng tôi để được hướng dẫn chi tiết hơn: letran@corporatecounsels.vn